Đang thực hiện
Tên truy cập (*)
Mật khẩu (*)
Quên mật khẩu?
 
Top adv
Tiếng Việt English
  • Các công trình đã công bố của PGS. TS. Cao Đình Triều
  • Ảnh Banner 05
  • Ảnh Banner 04
  • Ảnh Banner 03
  • Ảnh Banner 02
  • Ảnh Banner 01
  •  
  •  
Phát triển thủy điện ở Việt Nam những bài học từ thực tiễn

Thứ 4, 30 tháng 07 2014 10:20

1. ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI- TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CÁC CÔNG TRÌNH/HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN VIỆT NAM.
 
Việt Nam là nước có tiềm năng thủy điện trung bình, theo đánh giá tiềm năng lý thuyết của thuỷ điện Việt Nam được xác định khoảng 300 tỷ kWh (tính cho những con sông dài hơn 10 km) hay tương đương với công suất lắp máy khoảng 31.000 MW, tiềm năng kỹ thuật khoảng 123 tỷ kWh và tiềm năng kinh tế  khoảng 75 - 80 tỷ kWh, tương đương với công suất lắp máy khoảng 18.000 - 20.000 MW.
 
Đến 2012, tổng công suất lắp máy của các nhà máy thủy điện đã đạt 13.700 MW, và nếu Lai Châu và một số nhà máy thủy điện đang thi công hoàn thành, đến 2015, khoảng 85-90% tiềm năng kinh tế của thủy điện Việt Nam đã được khai thác.  Như vậy Việt Nam có tốc độ khai thác tài nguyên nước để phát triển thủy điện là khá mạnh mẽ. Nếu nhìn nhận về số lượng các công trình thủy điện (lớn, vừa và nhỏ) được xây dựng từ 1995 đến 2010 thì có thể nói là phát triển nóng. Tất cả các lưu vực sông lớn ở Việt Nam đều có hàng loạt bậc thang thủy điện được xây dựng. Thủy điện nhỏ cũng được phát triển ồ ạt trong những năm 2000 đến nay. Chính sự phát triển nóng, lấy mục đích hiệu quả năng lượng và kinh tế lên đầu mà coi nhẹ tác động đến môi trường, xã hội đã tạo nên nhiều hệ lụy.
 
  1. Tác động tích cực:
 Thủy điện hiện đang cung cấp khoảng 45 % tổng sản lượng điện quốc gia (  Kwh/..Kwh), như vậy thủy điện đang đóng vai trò khá quan trọng trong an ninh năng lượng quốc gia trong một số năm tới.
Một số công trình thủy điện lớn, đặc biệt là các công trình thủy điện trên sông Hồng đang đảm nhận vai trò giảm lũ và bổ sung nước mùa khô cho sản xuất nông nghiệp đồng bằng Sông Hồng.
Theo Báo cáo Giám sát Quốc hội (5/2013), hằng năm, các nhà máy thủy điện đang vận hành đã đóng góp cho ngân sách nhà nước khoảng 6.500 tỷ đồng thông qua thuế VAT, thuế tài nguyên nước, phí dịch vụ môi trường rừng... Việc hình thành các nhà máy thủy điện tại các tỉnh cũng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp.
 
1.2. Tác động tiêu cực:
Bên cạnh tác động tích cực góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, các công trình thủy điện đang bộc lộ những tác động tiêu cực đến môi trường, kinh tế, xã hội. Những tác động tiêu cực thể hiện 2 khía cạnh: i) tác động tiêu cực do chính bản chất của các công trình thủy điện, và ii) tác động tiêu cực do trách nhiệm của con người khi xây dựng và vận hành các công trình thủy điện.
 
1) Những tác động do chính bản chất của các công trình thủy điện:
          - Gây ngập và mất vĩnh viễn diện tích đất nông nghiệp, đất ở và rừng: Tùy thuộc vào quy mô hồ chứa, các thủy điện có thể làm ngập từ hàng chục đến hàng trăm ha đất các loại trên một MW công suất lắp máy. Trừ thủy điện Hòa Bình và Thác Bà, những công trình thủy điện vừa và lớn với công suất lắp máy trên 50 MW đã làm ngập gần 134 000 ha (Thác Bà: ngập 172.000 ha):
- Phải di dân đến nơi ở mới 46.000 hộ, quỹ đất dành cho sản xuất và nhà ở của các hộ hộ dân bị di dời là rất lớn.
- Giữ lại phần lớn lượng phù sa trong lòng hồ. Tạo nên mất cân bằng đông lực học hạ lưu, làm gia tăng khả năng xói lở bờ, xói sâu lòng sông hạ lưu gây khó khăn cho hệ thống lấy nước tưới (Sông Hồng); làm giảm độ mầu mỡ các vùng canh tác lúa, hoa mầu ở các đồng bằng, châu thổ hạ lưu. 
-  Gây động đất kích thích và các tai biến địa chất liên quan khác, mất ổn định đời sống cư dân (thủy điện Sông Tranh 2).
-  An toàn hạ lưu khi các hồ chứa gặp sự cố (do nhiều nguyên nhân).
 
2) Tác động tiêu cực do chủ quan con người:
 
Hệ lụy này có thể xẩy ra từ tấc cả các khâu: quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành công trình thủy điện. Những tác động có thể thấy:
- Việc xây dựng quá nhiều công trình trên một dòng sông, thay đổi hoàn toàn điều kiện sinh thái tự nhiên. Gây nên hậu quả “sự vỡ vụn” các dòng sông (khi dòng sông bị chặn 30% chiều dài dòng chảy để xây đập). Việc điều chỉnh quy hoạch để bổ sung các công trình quá dễ dàng làm tăng tác động lên dòng sông.
- Việc lựa chọn vị trí xây dựng công trình thủy điện đâu đó vẫn còn chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy phạm khảo sát thăm dò địa chất công trình thủy lợi – thủy điện. Một số công trình hiện được xây dựng tại nơi có biểu hiện hoạt động kiến tạo, tai biến địa chất mạnh là mối đe dọa lớn tới an toàn công trình thủy điện.
- Việc đánh giá tác động môi trường đối với một số công trình thủy điện còn thiếu nghiêm túc.
- Thiết kế không tuân thủ đầy đủ các quy định nhà nước, không đánh giá dầy đủ các yếu tố địa chất - kiến tạo hoặc địa chất công trình sẽ gây nên hậu quả trong quá trình vận hành (Sông Tranh 2, Ya krel2).
- Thi công không bảo đảm quy trình và chất lượng.
- Quá trình vận hành xả lũ gây sự cố hạ lưu hoặc mùa cạn không xả dòng chảy tối thiểu gây thiếu hụt nước hạ lưu (ở rất nhiều công trình).
 
3)   Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tác động tiêu cực do con người gây ra, những nguyên nhân lớn nhất có thể thấy:
- Hệ thống văn bản pháp quy không theo kịp thực tế.
- Sự hiểu biết của những người ra quyết định phê duyệt các công trình.
- Năng lực các nhà thiết kế, thi công.
- Năng lực các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt các địa phương (cấp tỉnh). Nhiều tỉnh không có cán bộ chuyên môn thủy lợi-thủy điện vẫ làm tham mưu cho tỉnh ra các quyết dịnh phê duyệt dự án, buông lỏng giám sát chất lượng và tuân thủ từ các khâu thiết kế, thi công và vận hành.
- Trong điều kiện biến đổi khí hậu, sự an toàn của các đập thủy điện đã là mối lo ngại mới. Đồng thời có những nghiên cứu cho thấy, thủy điện không phải là năng lượng sạch, tái tạo mà cũng là nguồn gây ra những tác động lớn đến môi trường, đến biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
 
         
 
2. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG DO PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN KHÔNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
 
Từ những kinh nghiệm và bài học thực tiễn phát triển thủy điện Việt Nam trong những thập kỷ qua. Những thách thức và rủi ro phát triển thủy điện, trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, cần được nhìn nhận và tiến hành sớm những nghiên cứu toàn diện để đánh giá toàn diện và khách quan.
 
2.1. Quan điểm phát triển thủy điện trong điều kiện biến đổi khí hậu:
Quan niệm về thủy điện như một “nguồn năng lượng sạch” và “rẻ” cần phải được thay đổi, đặc biệt từ những kinh nghiệm và bài học thực tiễn phát triển thủy điện Việt Nam trong những thập kỷ qua. Những thách thức và rủi ro phát triển thủy điện trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) cần được nhìn nhận và tiến hành sớm những nghiên cứu toàn diện để đánh giá những thách thức và rủi ro của đập thủy điện để đưa ra được chiến lược đúng cho phát triển thủy điện- nguồn tài nguyên thiên nhiên liên quan mật thiết với cuộc sống của con người và của đất nước.
Với trên 80% tiềm năng thủy điện đã được khai thác-những hệ lụy từ phát triển thủy điện đã được nhận dạng, nhà nước cần có chủ trương và chính sách để giảm thiểu những tác động do sự phát triển này gây ra, cụ thể: a) Vấn đề di dân, tái định cư và bảo đảm sinh kế lâu dài và bền vững cho cộng đồng dân bị tác động; b) vấn đề trồng rừng thay thế, giảm tác động mất rừng đến môi trường và BĐKH; c) Đánh giá toàn diện và khoa học an toàn đập và an toàn Hạ lưu, đặc biệt trong điều kiện BĐKH, gồm điều chỉnh các tiêu chuẩn quy hoạch, thiết kế, đánh giá tác động môi trường trong điều kiện BĐKH; điều chỉnh nâng cấp các công trình hiện có đáp ứng điều kiện thủy văn thay đổi do BĐKH; d) Các tác động khác Hạ lưu như vấn đề phù sa, xói lở bờ sông, xâm nhập mặn v..v.
Việc cập nhật chiến lược phát triển thủy điện bền vững ở cấp quốc gia trong điều kiện BĐKH là một nhiệm vụ hết sức cấp thiết. Chiến lược cần xác định đầy đủ về tác động có thể có của BĐKH đối với chiến lược phát triển thủy điện bền vững, chiến lược cần tuân thủ 7 Nguyên tắc Chiến lược mà Ủy ban Thế giới về Đập đã đưa ra, đó là: Cần có sự chấp nhận của công chúng; Cần đánh giá toàn diện các phương án khác nhau có thể; Đánh giá về tác động của các đập hiện có; Bảo đảm bền vững cho con sông và sinh kế cho người dân; Công nhận quyền và chia sẻ lợi ích; Đảm bảo tuân thủ; và Sử dụng các sông vì mục đích hòa bình, phát triển và an ninh.
    Phát triển thủy điện là một bài toán đánh đổi-sự đánh đổi cần phải được nhìn nhận cặn kẽ, thấu đáo và thận trọng. Trong điều kiện BĐKH vấn đề phát triển thủy điện cần phải cân nhắc thận trọng hơn rất nhiều để bảo đảm cho an ninh nguồn nước- lương thực – năng lượng và an ninh con người và cho sự phát triển bền vững thực sự của một đất nước.
 
2.2. Nghiên cứu tai biến địa chất đặc thù các công trình thủy điện
Cần thiết phải ban hành quy phạm mới về nhiệm vụ thăm dò khảo sát địa chất phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, trong đó bao gồm cả 3 giai đoạn: Khảo sát lựa chọn vị trí xây dựng công trình thủy điện; Thăm dò khảo sát thiết kế kỹ thuật công trình thủy điện và Theo dõi tai biến địa chất trong qúa trình vận hành công trình thủy điện. 
 
 
2.3. Những qui định vận hành an toàn hồ đập
          Rà soát lại quy định về vận hành an toàn đập thủy điện, bổ sung những điểm mới chưa phù hợp với thực tiễn, nhất là: vấn đề điều tiết xã lũ; vận hành liên hồ chứa; giám sát tai biến địa chất (nứt – sụt, sạt, trượt – lở đất, lũ quyét, động đất kích thích); kịch bản vỡ đập và giải pháp sơ tán, cứu nam – cứu hộ.     
Khẩn trương lập chương trình vận hành hồ chứa các lưu vực sông quan trọng như Sông Vu gia-Thu Bồn, các sông ở miền Trung nhằm khắc phục và hạn chế hiện tượng cạn kiệt, thiếu nước vào mùa khô, dưới mức dòng cháy tối thiểu. Và đặc biệt là chủ động giữu nước và xã lũ an toàn các hồ chứa mùa mưa bão. Các BQL thuỷ điện có cơ chế thông báo xã lũ đề người dân vùng hạ lưu chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại và anh tâm với cuộc sống dưới vung thuỷ điện.
 
2.4. Di dân tái định cư
Cần có chương trình rà soát, đánh giá hiện trạng rừng ở các vùng có thuỷ điện, trọng điểm là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ, nơi có hệ thống thuỷ điện quan trọng. Xây dựng kế hoạch cấp bách để bảo vệ và phát triển có hiệu quả vốn rừng, bảo vệ các khu bảo tồn, phát triển rừng đầu nguồn các lưu vực sông, cũng chính là bảo vệ nguồn nước cho thuỷ điện và các chức năng sinh thái, môi trường, đa mục đích, lâu dài và bền vững.
Xây dựng và thực thi chương trình ổn định và phát triển sinh kế cho các vùng tái định cư trọng điểm của thuỷ điện Sơn La, Lai Châu, Bản Vẽ, vùng Quảng Nam và Tây Nguyên. Ngăn chặn đói nghèo, xây dựng và bảo tồn văn hoá, ổn định xã hội các vùng TĐC. Một số vùng cần thiết phải giãn dân, TĐC lại, ở những nơi có đất sản xuất, có sinh kế bền vững cho người dân, không thể trợ cấp mãi được. Giải quyết gấp những nhu cầu về nước sinh hoạt, nước sản xuất và môi trường sống cho từng bản làng TĐC.          
Tin tức - sự kiện khác
Nếu bạn chưa có tài khoản trên website hãy đăng ký tại đây. Ban quản lý sẽ xem xét và duyệt hồ sơ của bạn trong thời gian ngắn nhất! Xin cảm ơn!
Dự báo thời tiết
Lựa chọn khu vực
Hà Nội
  • Hà Nội
  • TP. HCM
  • Đà Nẵng
  • Cần Thơ
  • Hải Phòng
  • Nha Trang
Thứ 5, 06/08/2020 23:22 GMT + 7
 
Copyright © 2014 - Viện Địa vật lý ứng dụng
Địa chỉ: 42C/41/210 Đội Cấn, Ba Đình – Hà Nội 
Điện thoại:  0913380853       fax: 04 37912969   
Email: cdtrieu@gmail.com
Thiết kế web bởi Web123.vn